Lê Văn Lân: Tiếng gọi "Cha" trong việt ngữ

  08/01/2016

Chúng ta hãy tìm hiểu một điều lý thú và bổ ích hơn về văn hoá và ngôn ngữ là đề tài : Tiếng gọi Cha trong Việt ngữ.

cha già.

ảnh: dongcam.vn

Tại sao tiếng Cha thường được gọi sau tiếng Mẹ?

Điều này rất đúng vì trè con bi bô tập nói thường kêu tiếng “Mẹ” trước hết rồi một thời gian lâu về sau mới gọi tiếng “Cha” và trong lòng trẻ con thường thiên về mẹ hơn về cha. 


Về tâm lý, mẹ mang thai con, sinh ra cho bú mớm, ôm ấp, nựng nịu nuông chiều. Hình ảnh mẹ là sự hiền từ, luyến ái đến nỗi đứa con sau khi thành nhân, ảnh hưởng mạnh mẽ in sâu trong tâm khảm tạo thành một mặc cảm tâm lý đặc biệt.


Về quá trình tiến hoá, chế độ mẫu hệ có trước chế độ phụ hệ. Ở dưới quyền bà mẹ gây dựng thành một thị tộc, mà con cái đẻ ra không biết cha là ai nên lấy huyết thống của mẹ làm gốc.. Bầy con cái sanh ra trước hết chỉ biết bầu sữa thiên nhiên của người mẹ. Hãy tìm vào những nét viết chữ Nho để minh họa điều này: 


Chữ Mẫu ( mẹ) viết với hình tượng người Nữ có hai cái vú. 


Chữ Nhũ ( vú ) được vẽ ra hình đứa con ( Tử) dùng tay bấu víu ( chữ Trảo ) vào bầu sữa mẹ 


Chữ Tính là họ, viết theo chữ Nho gồm chữ Nữ + Sinh (đẻ)


Chế độ phụ hệ phát sinh về sau do sự sinh hoạt của con người đã đạt đến giai đoạn du mục và canh nông. Đàn ông con trai với thể lực khỏe mạnh nên nắm quyền sản xuất lương thực thóc lúa nên do đó các con cái sanh ra mang họ của cha làm nền tảng cho phụ hệ, phụ-quyền. [ Chữ Nam con trai viết với chữ Điền (ruộng) + Lực ( sức khỏe)] 


Chữ Phụ ( cha) viết nguyên thủy bằng bàn tay cầm cây gậy chỉ huy. Và sự nuôi nấng của người cha ngoài thực phẩm còn kèm theo cái gậy, cái roi tượng trưng cho kỷ luật để dạy dỗ nên chữ Dục ( nuôi) còn có thể viết thành chữ Dục (nuôi)+ Phộc ( đánh khẽ ). 


Do đó, từ ý niệm của bầu sữa + tình cảm dịu ngọt của người mẹ nên có danh từ Hiền Mẫu hay Từ Mẫu ; và từ cây gậy chỉ huy+ kỷ luật dạy dỗ của người cha nên có danh từ Nghiêm Phụ. Con cái sợ cha nên phải vâng lời nên Việt nam ta có câu : Một lời cha bằng ba lời mẹ. Các cụ xưa lại quan niệm rằng dạy con cái nên người là do được răn đe, kỷ luật hơn là do chiều chuộng, buông thả: Yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi. Giống câu tục ngữ Anh: Spare the rod, spoil the child.


Trong luân lý Á Đông, vai trò của người mẹ và người cha đều phải được thờ kính trong tinh thần điều hoà với lẽ Âm Dương, đứa con sinh ra là do Khí cha (dương) kết hợp với Huyết mẹ (Âm) … Bổn phận trọng đại nhất của con cái đối với cha mẹ là chữ Hiếu, nhỏ thì vâng phục, lớn lên thì phụng dưỡng cha mẹ khi tuổi già, và thờ phụng hương khói khi cha mẹ qua đời. Nên ý hướng giáo dục tiên khởi là học chữ Hiếu . Chữ Giáo ( chỉ dạy) là chữ Hiếu + Phộc ( đánh nhẹ để răn đe ).


Lòng Hiếu kính từ Đông sang Tây 


Xã hội Á Đông không chọn ngày nào là ngày của Cha hay ngày của mẹ như ở Âu Mỹ mà chuyện này phải được coi như là một điều tâm niệm, một nguyên tắc đạo lý mỗi ngày trong cuộc sống:


Công cha như núi Thái sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra,
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con.


Trong Kinh Thánh của Thiên Chúa giáo, bàng bạc rải rác có rất nhiều câu dạy về lòng tôn kính của con người đối với cha và mẹ nhưng phải dành một sự thờ phượng tuyệt đối với Thiên Chúa tối cao, nên do đó không lập thành một hệ thống chữ Hiếu chặt chẽ như ở luân lý Khổng giáo của Á Đông mấy ngàn năm về trước. Chính vì vậy, trong xã hội Âu Mỹ, mãi về sau, người ta mới lập ra tùy theo quốc gia những ngày quốc-lễ Phụ thân hay Mẫu thân.


Một điều lý thú là Ngày cho Cha được tôn vinh rất trễ so với Ngày cho Mẹ.
Ở Mỹ, Ngày cho Mẹ vào ngày Chúa Nhật thứ 2 trong tháng Năm ban đầu được vận động vào năm 1907 ở Philadelphia do bà Ana Jarvis lấy ngày thân mẫu mình qua đời mà lập ra, chờ đến năm 1911 mới phổ biến gần như khắp các tiểu bang và đến năm 1914 mới được tổng thống Woodrow Wilson tuyên bố là ngày quốc lễ. 


Còn Ngày cho Cha là do sự khởi xướng của bà Sonora Dodd ở hạt Spokane thuộc tiểu bang Washington sau khi nghe thuyết giảng về Ngày cho Mẹ vào năm 1909. Bà đã muốn tôn vinh người cha của mình là ông William Smart nguyên là cựu chiến binh thời Nội chiến, mẹ bà đã chết sau khi vừa sinh đứa con thứ 6, nên cha bà phải đơn thân lâm vào cảnh gà trống nuôi sáu đứa con côi cút với bao can đảm và tận tụy hy sinh không bờ bến. Ngày sinh nhật của ông Smart vào này 19 tháng Sáu được coi như Ngày cho Cha tiên khởi. Tổng thống Calvin Coolidge vào năm 1924 ủng hộ ý kiến quốc lễ hoá ngày này. Rồi vào năm 1966, tổng thống Lyndon Johnson tuyên bố Ngày cho Cha chính thức vào ngày Chuá nhật thứ ba trong tháng Sáu, để vào năm 1972 tổng thống Richard Nixon ký Ngày cho Cha trở thành ngày quốc lễ vĩnh viễn theo luật định.


Những tiếng gọi Cha trong Việt ngữ


Để tiện việc khảo sát, tôi xin lần lượt trình bày tùy theo gốc gác ngôn ngữ như gốc thuần túy Việt, gốc ngoại lai. Tiếng gọi Cha thường đi đôi và dính liền với tiếng gọi Mẹ như là một sự song hành khó tách rời nên vô hình chung nhắc đến cha không thế nào nhắc đến Mẹ


1- Gốc Việt nôm na


a) Bố Cái phải chăng là danh từ nôm chỉ cha mẹ có tự ngàn xưa!


Trong cuốn Đất lề Quê thói ( 1968), tác giả Nhất Thanh Vũ văn Khiếu viết trong chương Gia tộc rằng: Những danh xưng bố mẹ, cha mẹ đã có tự ngàn xưa. Truyện Hồng Bàng trong sách Lĩnh Nam chích quái chép rằng :


Dân lúc nào có việc vần thường kêu vua Lạc Long :” Bô đi đàng nào chẳng đến cứu chúng ta” Nơi dưới câu ấy tác giả ghi chú: “ Người Nam gọi cha bằng Bô là bắt đầu từ đấy”. Tiếng Bô ( liền âm với tiếng bố) ngày nay vẫn còn nói, như Bô lão là bậc già cả ngang hàng với cha già.


Vậy ta có thể khẳng định “ bố” là cha và “ cái” là mẹ là tiếng Việt đã trải qua nhiều thế kỷ lịch sử.


b) Do đâu phát âm ra tiếng “ Cha” và “Mẹ “ ?


Tiếng Cha Mẹ cũng như tiếng Bố Cái từ lầu muôn đời về trước vẫn được chính thức dùng trong phong dao, tục ngữ và văn chương như:


_ Còn cha gót đỏ như son, Một mai cha mất gót con như bùn; Đời cha ăn mặn, đời con khát nước ...


_ Mẹ tròn con vuông; Mẹ góa, con côi; Mẹ nuôi con bằng trời bằng bể, Con nuôi mẹ con kể từng ngày.


* Về từ “Mẹ” thì ta khẳng định không còn hồ nghi vì nó cũng giống như trong bao ngôn ngữ khác trên thế giới, từ này bắt đầu với âm môi( thần âm / son labial) :“ M” : mère, maman, mother, mammy, mom ...như tiếng phát âm bập bẹ đầu đời của con trẻ. Những danh từ Việt thuần túy chỉ “ mẹ” khác cũng đã phát âm với âm môi “B”( thần âm) là Bu. U, Bầm .


* Tiếng Cha do đâu mà có? 


Những từ chỉ “ người cha” nguyên thủy vẫn phát ra với âm đầu thuộc âm môi nặng hay nhẹ ( trọng/ khinh thần âm) “B” hay “P’ hoặc “ F” ứng với sự “bi bô, bập bẹ” vành môi của con trẻ như Bô bô, Bố, Phụ, Père, Papa, Father... Ngoài ra còn âm nớu ( thiệt đầu âm) “Đ” và “T “ trong tiếng gọi cha như Daddy, Tía mà người ta có thể diễn dịch là do sự nói “ đớt đát” sơ khởi của trẻ con. [ Đớt: cách nói không sửa, khó nghe do chót lưỡi bằng, dài hay dày, khó uốn. Đớt- đát : khó nghe – Việt Nam Tự điển của Lê văn Đức & Lê ngọc Trụ]. 


Âm đầu Ch của tiếng “ Cha “ là thiệt- thượng âm ( âm cúa theo cách gọi của Lê ngọc Trụ) phải chăng tương ứng với giai đoạn còn nói “ chớt chát ” không đúng giọng của con trẻ( Việt Nam tự điển của hội Khai trí – Việt Nam tự điển của Lê văn Đức và Lê ngọc Trụ giải : Chớt = Đớt) 


Lê Quí Đôn, trong sách Vân đài lọai ngữ đã sự biên khảo về những tiếng gọi Cha bên Trung hoa xưa như sau: Người Chiết giang gọi phụ là Cha; người Bắc phương của nước Tầu gọi bố là Đa; người đất Ngô gọi bố là Cha, thanh âm đại để giống nhau. Người Hồi hột cũng gọi cha là đaTheo ông Léonard Aurousseau căn cứ vào sử Tầu, cho rằng người Chiết giang chính là dân Việt Nam nguyên thủy trong đám Bách Việt vào khoảng thế kỷ thứ V trước Công nguyên. 


Chữ Tía ở miền Nam Việt nam gọi cha là do ảnh hưởng của tiếng Tiều đọc chữ Đa mà ra. Giọng Bắc kinh đọc Đa là “tieh”!


c) Tìm hiểu thêm về vài chữ khác chỉ Cha/ Mẹ.


Nhiều gia đình ngoài Bắc gọi Cha Mẹ là Thầy Đẻ: Thầy hàm ý dạy dỗ, còn Đẻ tức là sinh ra. 


Ở Huế, tiếng Chú để gọi cha quen dùng có lẽ là do tục sợ đẻ con ra khó nuôi. Vùng quê Quảng Bình, cha mẹ gọi là Bọ Mạ . Chữ Bọ này có lẽ do chữ Bố biến âm. Ở ngoài Bắc có tiếng Bõ chỉ những người đầy tớ già như U Bõ thân thiết như cha mẹ đã nuôi mình từ nhỏ, chồng u nuôi cũng gọi là “bõ”. Trong Nam, “Vú Bõ” dùng để gọi cha mẹ đỡ đầu trong Công giáo. Một điều cũng nêu ra là những linh mục Công giáo gọi thường là Cha, nên trong các họ đạo những người có con làm “Cha” được gọi tôn là “Cố”.


Ngoài Bắc, có một thời người ta dùng hai chữ Cậu Mợ gọi cha mẹ. Đây là cái mốt thời thượng thay vì dùng những cách gọi khác như Thày U, Thày Đẻ ... bị chế riễu là quê mùa lạc hậu. 


2- Gốc Hán- Việt


Tiếng Việt cũng đã vay mượn từ Hán ngữ và Pháp ngữ để gọi Cha và Mẹ.


Vì qua sự tiếp nhận thính giác của giới bình dân nên âm ngữ chịu nhiều sự rơi rụng. Pháp ngữ vốn là ngôn ngữ nhiều âm-tiết, còn Việt ngữ thì đơn-âm, nên ta thấy những tiếng sau: Papa thì thành Ba; Mère thành Me, Maman thành Măng, Tonton ( chú bác hay cậu dượng) thành Tông, Tata ( dì hay cô) thành Ta...


Đối với từ Hán ngữ mà người Việt đã học qua nhiều thế kỷ thì Việt ngữ thường mượn nhiều từ Hán tự để biến thành những từ Hán-Việt. Phổ thông nhất, ta dùng từ Song Thân chỉ cha mẹ, Phụ Thân là cha, Mẫu Thân là mẹ. Ngoài ra, còn rất nhiều cách gọi cổ kính về Cha Mẹ trong văn chương tuồng tích hay phim Tầu chuyển âm mà ít người bây giờ còn hiều như Gia Nghiêm, Gia Từ, Lệnh Tôn, Lệnh Đường …
Tâm tình gói ghém trong tiếng gọi Cha thay bó hoa Ngày Thân Phụ


Tiếng Việt ta đã khác nhiều tiếng trên thế giới ở một điểm lý thú là người ta gặp những hoàn cảnh bất ngờ chỉ biết “ kêu Trời”, “kêu Chúa”còn người Việt mình ngoài sự “kêu Trời” đã đặc biệt gọi thêm Cha, thêm Mẹ vì đó là những đứng sinh thành trực tiếp nên gần gũi với bản thân hơn là kêu trời ở tuốt trên cao. Tôi nghĩ điểm này đã bắt nguồn từ lịch sử dân tộc ta chăng? 


Truyện Hồng Bàng trong sách Lĩnh Nam chích quái chép rằng : Dân lúc nào có việc vần thường kêu vua Lạc Long :” Bô đi đàng nào chẳng đến cứu chúng ta” Nơi dưới câu ấy tác giả ghi chú: “ Người Nam gọi cha bằng Bô là bắt đầu từ đấy”


Người Việt đã coi cha như là một lãnh tụ, là Vua tượng trưng cho uy quyền lãnh đạo với một thể lực vững vàng, một lý trí cứng cỏi, một sự phán đoán sáng suốt. để hướng dẫn cho đời mình. Cha tượng trưng cho nguyên tố Dương với những đặc tính : nóng, mạnh, cứng, cao, mau, thống trị, núi non… ngược lại với Mẹ thuộc nguyên tố Aâm vốn : mát, yếu, mềm, thấp, chậm, phục tùng, sông nước…


Công Cha như Núi Thái sơn,
Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra


Vì vai trò của người cha cao cả uy nghi vòi vọi, xa vời khỏi tầm mắt của đứa trẻ thơ, nên nó có khuynh hướng tìm về nguồn nước mát do người mẹ tuôn chảy ra, mỗi khi nó đói ăn thèm uống, chơi đùa té ngã thì kêu khóc với mẹ để được cho bú, cho ăn, hoặc được chiều chuộng vuốt ve trong khi rất lơ là tìm đến người cha. Nhà văn Ernest Hemingway rất tinh tế khôn ngoan khi nói rằng: To be a successful father…there’s one absolute rule: when you have a kid, don’t look at it for the first two years.( Muốn làm một người cha thành công…có một qui luật tuyệt đối là khi ông có một đứa con, trong hai năm đầu, đừng ngó đến nó!) vì ông hiểu thời gian này, nhu cầu của đứa con cần hưỡng trọn vẹn sự săn sóc tríu mến dịu dàng của người mẹ hơn là sự uốn nắn cứng rắn của người cha. Làm cha trong giai đoạn này nên ít can thiệp thì khôn ngoan hơn.


Thông thường, người cha cũng rất thương con nhưng vì bản tính rắn rỏi của nam giới nên không tỏ ra lộ liễu, phải chờ một người con đến tuổi trưởng thành mới hiểu được hình ảnh của cha mình, nhất là khi bị lam lũ, vấp ngã trên đường đời, nhất là khi chăn dậy con cái của mình thì mới nhớ đến lời dậy của cha mình thuở nhỏ, bấy giờ mới thấm thía câu:


Còn cha gót đỏ như son,
Một mai cha mất, gót đen như bùn.


Gabriel Garcia Marquez cũng chí lý qua câu nói: A man knows when he is growing old because he begins to look like his father ( Một người biết mình đang trưởng thành khi ông bắt đầu muốn mình giống như cha mình vậy).


Người cha bình thường ngoài cái lao đao về thể lực tinh thần để lo sinh kế cho gia đình, còn có những nỗi khổ âm thầm sâu sắc trong tâm hồn khác khi thấy con cái mình thất bại trên đường đời mà mình phải bó tay. Đọc kỹ lại Kinh Thánh phần Tân ước, ít người nắm bắt được hình ảnh cao cả chịu đựng rất âm thầm của ông thánh Giu-se suốt gần ba chục năm làm thợ mộc thánh thiện tầm thường kiếm ăn cho cả gia đình, đặc biệt là trên đường dẫn Thánh gia chạy trốn tỵ nạn qua Ai cập, trong khi Mẹ Maria và chúa Giê-su hài đồng ngồi trên lưng lừa, còn mình ông đi bộ trên đường cát nóng của sa mạc dài hằng trăm cây số …

Sigmund Freud, cha đẻ ra ngành Phân Tâm học, tuy là người đã khám phá ra mặc cảm tâm lý Oedipus nơi trẻ con – nghĩa là một loại tiềm thức luyến-ái mẫu thân và kình chống ghen tức với phụ thân, cũng thú nhận rằng chính bản thân ông hồi thơ ấu không thể nào cưỡng lại nhu cầu mạnh mẽ tìm đến sự bảo vệ của cha ông! (I cannot think of any need in childhood as strong as the need for a fathers’s protection – Sigmund Freud). 


Một câu ngạn ngữ Anh quốc cũng đề cao vai trò dậy dỗ về trí tuệ của người cha trong gia đình còn hơn hàng trăm ông thày ở học đường (One father is more than a hundred schoolmasters – English Proverb). Và ở Việt Nam người ta cũng thấy người cha thường là người truyền ảnh hưởng mạnh cho các con về sự nghiệp qua câu: Hổ phụ sinh hổ tử và lại rất hãnh diện khi thấy người con thành đạt hơn cha mình với ý niệm: Con hơn cha là nhà có phúc.


Trong Ngày Phụ Thân, tiệc tùng quà cáp cho người cha chỉ là tượng trưng, tặng vật quí giá mà ông chờ đợi từ các người con phải là niềm tri ân kính yêu và sự thấu hiểu rằng ông đã suốt một đời từng thương lo cho các con vừa bằng trái tim nồng nhiệt nhưng thường bị bầm dập âm thầm vừa bằng trí khôn ngoan suy tính nhưng cũng chất chứa nhiều nhục nhằn chua chát trong cuộc đời.

Lê văn lân

(Bài tham khảo thể hiện quan điểm của tác giả, chưa rõ nguồn xin được bổ xung sau)

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Nhập Email của bạn để nhận được những kiến thức và tin tức bổ ích nhất cho bạn và gia đình của bạn !

Fanpage